Tính chất và phương pháp xử lý khí của lò nung vôi
Lò nung vôi là thiết bị quan trọng trong sản xuất vôi, hoạt động bằng cách phân hủy đá vôi thành vôi sống và khí dioxide thông qua nhiệt độ cao. Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất của lò nung vôi, sẽ có rất nhiều khói lò, chứa nhiều chất độc hại, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người. Do đó, cách xử lý khói lò nung vôi và giảm tác động của nó đối với môi trường đã trở thành một vấn đề bảo vệ môi trường quan trọng.
Tính chất của khói lò trong sản xuất lò nung vôi
Trước hết, chúng ta cần hiểu các đặc tính của khói lò vôi. Khí thải từ lò vôi chủ yếu bao gồm dioxide carbon, monoxit carbon, oxit nitơ, oxit lưu huỳnh, bụi và các chất khác. Trong đó, dioxide carbon và monoxit carbon là khí nhà kính chính, có tác động quan trọng đến hiện tượng nóng lên toàn cầu. Oxit nitơ và oxit lưu huỳnh là các chất gây ô nhiễm không khí chính, gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe con người và môi trường. Bụi có thể làm giảm chất lượng không khí và ảnh hưởng đến hệ hô hấp của con người. Nói chung, có những đặc điểm sau đây:
L Chứa nhiều hơi nước
Hơi nước trong đá vôi thô và than khoảng 5%, quá trình sấy trong phần tiền nhiệt sẽ tạo ra hơi nước tương ứng, điểm sương có thể đạt tới 60℃-70℃. Khi nhiệt độ khí thải thấp hơn nhiệt độ điểm sương, hiện tượng ngưng tụ dễ xảy ra trong đường ống và bộ lọc bụi, dẫn đến dính túi.
L Nhiệt độ cao
Trong sản xuất thực tế, khí thải sẽ được kiểm soát trong phạm vi 200℃, với sự dao động nhất định của chu kỳ cấp liệu, nhiệt độ quá thấp sẽ gây ngưng tụ, nhiệt độ quá cao sẽ gây lãng phí năng lượng, và trong một số trường hợp đặc biệt, vật liệu có thể bị cắt ở mức 350℃.
L có bụi
Loại, đặc điểm và mức độ sấy của vật liệu là khác nhau, vì vậy kích thước lượng bụi trong khí thải cũng sẽ khác nhau.
L Có presence sulfur dioxide
Trong khí thải của sản xuất lò vôi có chứa sulfur dioxide, môi trường ẩm ướt sẽ làm ăn mòn thiết bị và vật liệu lọc. Phần lớn sulfur dioxide đến từ việc đốt than có hàm lượng sulfur cao.
Phương pháp xử lý khí thải
1. Phương pháp rửa:
Phương pháp rửa là hòa tan các chất có hại trong khí thải vào nước bằng cách phun chất lỏng, sau đó loại bỏ các chất có hại đã hòa tan trong nước thông qua các bước như lắng, lọc và các bước khác. Phương pháp này có thể hiệu quả loại bỏ các hạt và một số khí có hại trong khí thải, nhưng nước thải đã được xử lý cần phải được xử lý thêm, nếu không sẽ gây ô nhiễm thứ cấp cho môi trường.
2. Phương pháp hấp phụ
Phương pháp hấp phụ là sử dụng chất hấp phụ để hấp thụ các chất có hại trong khí thải lên chất hấp phụ, sau đó thông qua các bước tái sinh hoặc đốt cháy, loại bỏ các chất có hại đã hấp phụ trên chất hấp phụ. Phương pháp này có thể hiệu quả loại bỏ oxit nitơ và oxit lưu huỳnh từ khí thải, nhưng tuổi thọ của chất hấp phụ là có hạn và cần phải thay thế định kỳ.
3. Công nghệ khử lưu huỳnh và khử nitơ
Đây là một công nghệ xử lý khí thải tiên tiến, có thể loại bỏ oxit nitơ và oxit lưu huỳnh trong khí thải cùng lúc. Phương pháp này chủ yếu bao gồm khử lưu huỳnh ướt và khô, khử lưu huỳnh ướt là khí thải đi qua dung dịch khử lưu huỳnh để cho oxit nitơ và oxit lưu huỳnh trong khí thải phản ứng với dung dịch khử lưu huỳnh tạo ra sunfat và nitrat; Khử lưu huỳnh khô là thông qua chất xúc tác, oxit nitơ và oxit lưu huỳnh trong khí thải phản ứng với oxy để tạo ra dioxide lưu huỳnh và nitơ.
4. Công nghệ lọc bụi điện
công nghệ lọc bụi điện là thông qua một điện trường cao thế, làm cho các hạt trong khí thải mang điện, sau đó thông qua tác động của lực điện trường, các hạt mang điện được hấp thụ trên tấm điện cực để đạt được mục đích loại bỏ các hạt. Phương pháp này có thể hiệu quả loại bỏ các hạt trong khí thải, nhưng tiêu thụ năng lượng cao.
Vì lò đứng vôi nung hỗn hợp thuộc về đốt cháy ở nhiệt độ thấp, trong điều kiện bình thường, oxit nitơ nằm trong phạm vi bình thường, việc xử lý khí thải chỉ cần loại bỏ bụi và khử lưu huỳnh. Việc loại bỏ bụi thường sử dụng bộ thu bụi xoáy và bộ thu bụi túi xung có thể được sử dụng. Việc khử lưu huỳnh thường sử dụng phương pháp khử lưu huỳnh hai kiềm, với vôi và kiềm natri (Na2CO3 hoặc NaOH) làm chất khử lưu huỳnh. Dung dịch khử lưu huỳnh được tuần hoàn bên ngoài tháp. Sau khi xử lý khí thải, lượng vật chất颗 li ti ≤ 10mg/Nm3 và dioxide lưu huỳnh ≤ 50mg/Nm3 đạt tiêu chuẩn phát thải. Chất khử lưu huỳnh trong bể được tái chế sau quá trình lắng và tái sinh, cặn là thạch cao, được lọc bởi máy ép tấm khung và sử dụng làm vật liệu xây dựng.